Trong một lần đi công tác ở Tây Nguyên, tôi đã nghe người ta kể câu chuyện này. Tôi ghi lại chỉ muốn nói một điều, chúng ta sống hãy thương lấy nhau, đừng làm điều ác, để đến lúc ân hận thì mọi chuyện muộn quá rồi.
Truyện ngắn đã đăng ở báo “ Nhân Dân Chủ Nhật” và trong tập truyện ngắn “Lầm lẫn” – NXB Hội Nhà Văn – 1995. Từ nội dung truyện ngắn này tôi chuyển thể thành kịch bản điện ảnh “ Con ma Hơ Liên”, các bạn có thể xem trong mục “ Kịch bản điện ảnh” của trang Website này.
Truyện ngắn các bạn đang đọc có sửa chữa và bổ xung.
--------------------------
Ngày ấy buôn của tôi như có bão. Người này đồn với người kia, chỗ nào cũng có tiếng thì thầm, nét mặt ai cũng lộ vẻ sợ hãi. Nhiều người đã nhìn thấy con ma Hơ Liên.
Một buổi chiều khi đi làm về, nhiều người nói đã nhìn thấy con ma Hơ Liên đứng khóc ở đầu dốc, gọi tên từng đứa trẻ. Mọi người hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Con ma nói với mọi người đứng lại, chẳng ai dám đứng, cứ thế chạy thẳng một mạch về nhà, đóng sập cửa lại, kéo lá xanh dấp đầy cổng. Cả buổi tối ấy, trong buôn thật im lìm. Đàn bà, trẻ nhỏ co rúm vào trong một góc nhà, đàn ông khoẻ mạnh cầm dáo, cầm nỏ đứng canh ngay ở cửa, nét mặt căng thẳng.
Tiếng khóc của con ma Hơ Liên trên triền dốc theo gió thoảng xuống, đêm càng khuya, nghe càng rõ: “ Cho tôi về…tôi đã chết đâu…tôi về dạy chữ cho các em…đừng giết tôi…”. Tiếng khóc của con ma Hơ Liên làm cho nỗi sợ hãi của mọi người trong buôn tăng thêm.
Sáng hôm sau, theo lệnh của già làng, bằng mọi cách phải giết bằng được con ma Hơ Liên. Để con ma ấy sống, nó còn vật chết nhiều người. Cả buôn náo động, người cầm mác, kẻ cầm nỏ, có người vác cả súng. Họ tản vào rừng truy tìm con ma Hơ Liên.
Con ma Hơ Liên trốn biệt tăm.
Bây giờ lũ trẻ bọn tôi sợ con ma Hơ Liên thực sự, còn trước kia…
Theo lời nhiều người kể, hồi tôi chưa đi học, cô gái Hơ Liên được coi là người con gái đẹp nhất buôn, bao chàng trai muốn cưới Hơ Liên làm vợ, nhưng Hơ Liên không ưng. Cô về xuôi học để trở thành cô giáo, dạy chúng tôi chữ của người Kinh. Tụi trẻ bọn tôi, ai cũng thương và mến cô.
Một thời gian sau, chẳng hiểu cô mắc bệnh gì mà chân tay nứt nẻ, mắt bị lồi to, tóc rụng dần, trên mặt nổi lên những nốt sần đỏ. Những người trước đây muốn cưới cô làm vợ nhưng không được, nay mới nói: “ Vì nó không nghe lời già làng ở lại buôn lấy chồng, xuống xuôi học nên ma nhập vào người.”.
Lớp học của chúng tôi đang vui tự nhiên tan dần. Chúng tôi thương cô Hơ Liên nhưng không đứa nào dám lại gần. Nhiều lần chúng tôi thấy cô đi thẫn thờ quanh lớp học rồi gục đầu vào bảng đen, cô khóc.
Ít lâu sau trong buôn của tôi có mấy đứa trẻ chỉ sau một trận ốm, giãy giãy chân, mắt trợn ngược, sùi bọt mép rồi chết. Già làng nói, việc này do con ma nhập vào Hơ Liên làm , cần giết nó đi. Cô bị bắt, mấy người thanh niên đã vứt cô xuống vực. Ai cũng tưởng cô chết rồi, có ai ngờ…nay cô lại về. Thỉnh thoảng cô về ban đêm với tiếng khóc rợn hơn tiếng hú của con vượn, ai oán hơn tiếng con hoẵng tác đêm.
Người lớn còn sợ, huống hồ là lũ trẻ bọn tôi.
Không tìm được con ma Hơ Liên, ban ngày người lớn đi làm theo từng đoàn, bọn trẻ chúng tôi lên rẫy cũng đi thành từng nhóm, phòng bất trắc. Thỉnh thoảng bọn tôi thấy trên triền dốc ai đó viết chữ “ a”, chữ “ b” của người Kinh, chúng tôi cùng ồ lên vui vẻ, đánh đố nhau ai thuộc trước. Có đứa nhớ, có đứa quên. Đứa nhớ dạy cho đứa quên. Còn tôi ao ước: “ Giá như cô giáo Hơ Liên không thành ma.”
Có điều lạ, ban đêm nghe rõ tiếng khóc của con ma Hơ Liên, còn ban ngày bao người đi tìm lại không thấy. Người hay ma? Ma hay người? Nhiều lúc tôi tự hỏi. Nhiều sự việc tôi và bao người không thể giải thích được. Như nương của nhà tôi, ai đó đã lợp lá kè lên giúp cho mọi người tránh mưa, tránh nắng. Lại nữa, cái lu đất để đâù nương, đêm qua không mưa, sáng sau đã đầy nước. Ai giúp chúng tôi việc này?
Anh tôi hỏi nhiều người, không ai trả lời được cả.
Cho đến một ngày.
Chúng tôi nghe tiếng “Ông Tượng” (1) rống. Thôi, chết rồi! “Ông Tượng” về thật rồi. Tôi nghe mọi người kể chuyện buôn bên cạnh, “Ông Tượng” về lấy vòi quật chết mấy người rồi ông lấy chân đạp đổ nhà ở cạnh rừng. Bây giờ họ phá rừng nhiều quá, không có chỗ cho “Ông Tượng” ở, nên “Ông Tượng” về buôn trả thù. Chúng tôi nghe hãi hùng, nay điều đó đang xảy đến với buôn của tôi.
Tiếng “Ông Tượng” chạy như bão thổi, vật cây rừng. Tiếng rống của “Ông Tượng” u…u từng hồi, vang vách đá. Cả buôn tôi đốt lửa, lửa cháy to phần phật. Nhà nào, nhà nấy vội thu gom đồ đạc. Mọi người chạy hết vào nhà rông.
Già làng, trai tráng, đàn bà cho đến trẻ nhỏ bọn tôi, ai cũng sợ hãi. Nỗi sợ hãi còn lớn hơn gấp nhiều lần nỗi sợ hãi khi gặp con ma Hơ Liên ở triền dốc dạo nào.
Trai tráng, theo lệnh già làng, vứt hết cung nỏ, giáo mác, súng. Đừng để cho “Ông Tượng” nhìn thấy. “Ông Tượng” nhìn thấy tức giận sẽ giết chết hết.
Tôi chưa bao giờ thấy già làng sợ, thế mà chỉ nghe thấy tiếng “Ông Tượng ” rống, chân tay già làng run lẩy bẩy, đứng chết trân giữa nhà rông.
Tiếng “Ông Tượng” chạy, cây đổ nghe đã rõ. Tôi hãi hùng ôm chặt lấy mẹ của tôi.
Một lúc sau, như có phép lạ, “Ông Tượng” không vào buôn mà quay ra hướng khác. “Ông Tượng” chạy như phát cuồng. Qua khe vách nhà rông nhìn ra, chúng tôi thấy vòi “Ông Tượng” dựng ngược, bốn chân co lại rồi tung gót như đang đuổi theo ai. Những tấm thân nâu , to như quả núi lao đi loang loáng: “ Giàng ơi! “Ông Tượng” tha rồi, thoát nạn rồi!”. Ai đó kêu lên.
Đợi cho bóng “Ông Tượng” đi khuất, mọi người mới dám ra khỏi nhà rông. Nét mặt của ai cũng mừng rỡ vì thoát chết.
Bọn trẻ chúng tôi chạy ra xem vết chân “Ông Tượng”. Những dấu chân chi chít, vết nào ,vết nấy to như cái chiêng. Chúng tôi thi nhau đếm:“…Một…hai… ba…bốn…” nhiều quá.
Hay nhỉ! Vì sao “Ông Tượng” không vào buôn. Buôn của tôi, già làng có gieo bùa đâu mà “Ông Tượng” sợ. Đang đi đếm vết chân “Ông Tượng”, chúng tôi sững lại như không tin vào mắt mình. Có xác người bị chân “Ông Tượng” giẫm nát. Ai vậy ? Quanh người này quấn đầy lá tre, lá bắp làm mồi cho “Ông Tượng” đuổi theo.
Chúng tôi đi gọi già làng. Già làng chạy ra , theo sau còn nhiều người lớn nữa. Mọi người lật xác ngươì đó lên. Một người con gái có nét mặt quen thuộc. Bao ngừơi cùng “ồ” lên kinh ngạc: “ Giàng ơi! Con ma Hơ Liên cứu buôn mình rồi!”.
Tôi nhìn lên đỉnh núi. Nhớ mái lợp chòi bằng lá kè, nhớ lu nước đầu nương, nhớ chữ “ a” , chữ “ b” viết trên triền dốc… và tôi nhớ nhất tiếng kêu thảm thiết trong đêm của cô giáo Hơ Liên : “ Tôi chưa chết đâu…cho tôi về …tôi dạy các em…”.
HẾT
CHÚ THÍCH:
Ông Tượng - Tiếng gọi kính cẩn để voi về không phá.