THỐNG KÊ WEBSIE
Khách đã truy cập: 104767
Khách đang online: 2
 
 
THÔNG BÁO NEWS
       
     
Tác Phẩm
     
 
  VĂN HÓA CHỬI ( Thơ văn của bạn)

 

      

               Người Việt Nam khi bực mình, có lúc biểu hiện thái độ im lặng " không thèm chấp", nhưng... cũng có khi " chửi" cho sướng miệng, cho hạ hỏa và biết đâu... " chửi" để thể hiện " văn hóa nói" và ngẫm cho kỹ " chửi" cũng là sự nhận xét. Dễ gì ai đã biết " chửi" và cũng dễ gì...ai đó dám nghe " chửi".

            kytrungtran.com mạn phép Tiến sỹ Nguyễn Hưng Quốc  và nhà thơ Trần Vàng Sao  đăng lại hai bài nói về " chửi" của hai tác giả này.

            Mời bạn đọc, đọc cho vui.

 

                                                   VĂN HÓA CHỬI ĐỔNG 

                                                       Nguyễn Hưng Quốc

                  Ai cũng biết chửi có nhiều hình thức. Hơn nữa, tôi có cảm tưởng, các hình thức ấy càng ngày càng đa dạng. Trước, trong Từ điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes (1651), chỉ có hai từ chửi và chửi mắng; sau, trong Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895), có thêm chửi bới, chửi rủa, chửi lộn và chửi thề; kèm theo một số thành ngữ như: chửi như tách nứa, chửi như gõ thoi; sau nữa, trong Việt Nam tân từ điển của Thanh Nghị (1952), thêm: chửi bâng quơ, chửi vào mặt, chửi tục, chửi vung, chửi xối hay chửi xối xả. Từ điển tiếng Việt của Văn Tân (1963), ngoài một số hình thức chửi trên, còn thêm: chửi bóng chửi gió, chửi chữ, chửi đổng, chửi xỏ. Nhiều nhất là trong Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ (1970) với một số kiểu chửi mới, chưa thấy trong các từ điển trước: chửi bỏ, chửi bông lông, chửi đùa, chửi khống, chửi lén, chửi tắt bếp, chửi thầm, chửi thề, chửi trổng, chửi vãi, chửi vụng, và chửi xiên chửi xéo. Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ cũng liệt kê một số thành ngữ bắt đầu bằng chữ chửi: Chửi cha không bằng pha tiếng, chửi chó mắng mèo, chửi lắm nghe nhiều, chửi như chó ăn vã mắm, chửi như mất gà, chửi như vặt thịt.

            Ngoài ra, có nhiều từ hoặc thành ngữ khá phổ biến ngoài đời nhưng không hiểu sao lại không có trong từ điển: chửi cha, chửi xéo, chửi móc, chửi leo, chửi đông đổng, chửi té khói, chửi không kịp vuốt mặt, chửi như vãi trấu, chửi như tát nước (vào mặt), chửi tưới hột sen, chửi tá lả, chửi tá lả bùng binh, chửi búa xua, chửi tứ tung, chửi tứ tung lung tàng, chửi tùm lum tà la, chửi sa sả, chửi cho tắt đài, chửi thẳng vào mặt, chửi sủi bọt mép, chửi như hát, v.v… (Tôi chỉ nhớ được chừng đó; bạn nào biết được thêm chữ hay thành ngữ nào khác, xin bổ sung giùm.)

            Gần đồng nghĩa (nhưng nhẹ hơn) với chửi là mắng. Có mắng nhiếc, mắng mỏ, mắng trả, mắng vốn.

             Số lượng từ vựng dồi dào như vậy chứng tỏ việc chửi khá phổ biến và rất đa dạng ở Việt Nam. Không có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết các học giả đều đồng ý với nhau: người Việt Nam chửi nhiều. Một số người còn nói thêm: Người Việt không những chửi nhiều mà còn chửi hay nữa.

            Trong cuốn Ngôn ngữ và thân xác, xuất bản tại Sài Gòn năm 1968, Nguyễn Văn Trung bàn nhiều về hiện tượng chửi tục của người Việt Nam, trong đó ông nêu lên một nhận xét táo bạo:

“          Có lẽ không có dân tộc nào trên thế giới văng tục, chửi tục nhiều và hay như dân tộc Việt Nam. Đó là một hiện tượng rất phổ thông trong ngôn ngữ hằng ngày và cũng rất phong phú vì gồm rất nhiều lối văng tục, chửi tục, sử dụng rất nhiều chất liệu khác nhau để xây dựng câu chửi, nhưng cũng nhằm rất nhiều ý nghĩa, kể cả ý nghĩa tôn giáo. Do đó, văng tục, chửi tục là một vấn đề quan trọng đòi hỏi một công trình kê khai có hệ thống để giải thích khoa chửi tục của người Việt Nam.”

           Nhà văn Võ Phiến thì có hai bài "Chửi" và "Chửi tục", cũng xuất bản trước 1975, sau, in lại trong tập Tuỳ bút 1, do Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1986; trong đó, cũng giống Nguyễn Văn Trung, ông cho người Việt không những chửi nhiều, chửi tục mà còn chửi hay nữa.

              Hay đến độ, theo Võ Phiến, thời Pháp thuộc, trước năm 1945, có một nhà nghiên cứu người Pháp, sau khi đọc một tập truyện của Thanh Tịnh, thấy trong đó có nhân vật chửi nhau hấp dẫn quá, đã nhờ Thanh Tịnh giúp tìm tài liệu để viết về nghệ thuật chửi bới của người Việt Nam. Cũng theo Võ Phiến, sau này, cuối thập niên 60, linh mục Trương Đình Hoè đã soạn hẳn một luận án tiến sĩ về ý nghĩa của cái chửi Việt Nam tại một trường đại học ở Paris. 

             Mà, thật ra, không cần nghe các học giả. Chỉ bằng kinh nghiệm bản thân, có lẽ ai trong chúng ta cũng thấy được điều đó. Nếu ở Tây phương (tôi không dám nói các nước Phi châu hay Á châu khác, những nơi tôi chưa từng sống nên không biết), người ta vẫn chửi thề và chửi tục, tuy cũng thô tục và thô bạo, nhưng thường ngắn gọn, ở Việt Nam, chửi thường khá dài và dai, có khi cả tiếng hay nhiều tiếng đồng hồ. Chửi liên tục, ròng rã.

            Hồi nhỏ, sống ở miền quê, tôi thường nghe nhiều người chửi như thế. Giận con: chửi. Giận chồng: chửi. Giận hàng xóm: chửi. Chồng ngoại tình, ra trước sân nhà hay có khi ra hẳn ngoài đường, chửi: “Phải chi con đó có bốn vú, hai l. thì mi mê cũng đáng; đàng này nó cũng chỉ có hai vú, một l. như tau thì tại sao mi lại bỏ vợ bỏ con mà đi theo cái con đĩ đó hở cái thằng mất nết mắc dịch kia?”. Đau bụng đẻ cũng lôi chồng ra chửi: “Tau đã bảo đừng rồi, vậy mà cứ lăn xả vào đòi lột quần người ta ra mà ... (tự ý đục bỏ!)… Ới cái thằng mắc toi mắc dịch, cái thằng dê xồm dê cụ kia, có giỏi thì chịu cảnh đau đẻ như bà nè!”

             Trong văn học, người chửi nhiều nhất có lẽ là Chí Phèo của Nam Cao:

             “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: "Chắc nó trừ mình ra!" Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ồ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết...”

              Chí Phèo hay chửi. Nhưng Nam Cao không cho biết là hắn chửi hay hay không. Chúng ta cũng không có “văn bản” lời chửi của hắn để tự mình đánh giá. Nhưng lời chửi của vợ trương Thi, hàng xóm của Pha trong “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan thì hay thật:
              " Làng trên xóm dưới! Bên sau phía trước! Bên ngược bên xuôi! Tôi có con gà mái xám nó sắp ghẹ ổ, nó lạc ban sáng, mà thằng nào con nào ở gần đây mà qua, đứa ở xa mà lại, nó day tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi thì buông tha nó ra, không thì tôi chửi cho đơơới ! 

           Chém cha đứa bắt gà nhà bà! Chiều hôm qua bà cho nó ăn hãy còn, sáng hôm nay, con bà gọi hãy còn, mà bây giờ mày đã bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì mày buông tha thả bỏ nó ra, cho nó về nhà bà. Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào thằng tam đại tứ đại nhà mày lên, bà khai quật san bằng ngũ đại lục đại nhà mày lên. Nó ở nhà bà, nó là con gà, nó về nhà mày nó biến thành cú thành cáo, thành thần nanh đò mỏ, nó mổ chồng mổ con, mổ cái nhà mày cho mà xem. Ớ cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia! Mày mà giết gà nhà bà, thì một người ăn chết một, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba, mày xuống âm phủ mày bị quỷ sứ thần linh rút ruột ra, ớ cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia ạ!”

            Cũng về đề tài mất gà như thế, tôi còn nghe một bài văn chửi gần như là vè. Cũng vần cũng điệu, cũng ngân nga và cũng trầm bổng; nhiều câu chữ y như hai đoạn văn trên của Nguyễn Công Hoan:

               Tổ cha mày
               Cái đứa đen lòng xanh cật
               Mặt sấp mo nang
               Rình ngang rình ngửa
               Bắt gà của bà

               Ở nhà bà
               Nó là gà xương gà thịt
               Về nhà mày
               Nó là thần nanh xanh, mỏ đỏ
               Nó mổ mắt mày

               Ở nhà bà
               Nó là gà gấm gà hoa
               Sang nhà mày
               Nó là ác cầm ác thú
               là cú là cáo
               là báo là hổ
               Vồ cả nhà mày
               Giày cả nhà mày. (1)

             Ở Huế, người ta cũng nghe những tiếng chửi như vậy. Có khi có bài bản và vần điệu du dương hơn:

             "Cao tằng tổ đĩ, cao tằng tổ khảo, cố tổ gia tông cả ông, cả bà, cả cha, cả mẹ, chú bác, anh em, họ nội, họ ngoại, xa gần ân ái, họ gái họ trai, dưới âm phủ đội mũ mà lên, trên thiên đàng xếp hàng mà đi xuống, bay hãy vén mái tai, gài mái tóc đặng chống tai lên cho rõ, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp để mà nghe tao chửi đây nè:

            Tau chửi cho tan nát tông môn họ hàng cái quân khốn kiếp, cái quân vô hậu kế đợi đã ăn hết của tau bảy con gà xám, tám con gà vàng. Bay ăn chi mà ăn ác nhơn ác nghiệp, ăn một lần một chục rưỡi con gà. Bay ăn cho chồng bay sợ, cho con bay kinh, bay ăn cho ngả miếu sập đình, cho mồ cha bay chết hết để một mình bay ngồi đó mà ăn. Đồ cái quân ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột. Cái quân không sợ trời đánh thánh đâm... bay ăn mần răng mà hết chục rưỡi con gà?" (2)

            Ở miền Trung, hồi nhỏ, tôi được nghe một bài văn chửi mất gà khác với bài vừa kể. Chỉ nhớ loáng thoáng một số câu:

               Tổ cha nó
               Cái thằng ăn cắp
               Nó bắt con gà vàng khoan cổ
               con gà nổ khoan lông
               nó nấu nồi đồng
               nó nấu nồi đất,
               nó ăn lật đật
               nó trật xương quai
               nó lòi bản họng
               mà nó cứ tọng vô mồm
               cái mồm thối mồm tha
               mồm ma mồm quỷ
               mồm đĩ mồm chó
              Tổ cha nó!

             Hầu hết các lời chửi ở trên đều không nhắm vào một đối tượng cụ thể nào cả. Chửi như thế gọi là chửi đổng (hay chửi đông đổng, chửi trổng, chửi khống).

            Nếu hiện tượng chửi đổng như thế từng phổ biến ở nông thôn, thì, ở thành thị, nó có vẻ thưa thớt hơn. Mức độ thành thị hoá càng cao, nó lại càng thưa thớt. Lúc ấy, chúng ta thường nghe những tiếng chửi thề hay chửi tục nhưng lại hiếm khi nghe những bài văn chửi lê thê, vần vè và vu vơ như trước.

           Nhưng chửi đổng có chết hẳn không?

            Không. Nó không chết. Nó chỉ biến tướng. Nó “bác học hoá”, xuất hiện trên báo chí; và gần đây, được “hiện đại hoá”, xuất hiện trên mạng. Có cảm tưởng một số người mở website hay blog chỉ để làm mỗi một việc: chửi đổng. Chửi hết người này đến người khác. Cứ chửi bâng quơ, vu vơ, không khống. Như những tiếng sủa ủng oẳng của những con chó dại. Xin nói ngay: Hình tượng và chữ “sủa” ấy không phải của tôi. Có người dùng như thế rồi. Không phải là dùng cho người khác. Mà là tự nhận cho chính họ: Họ thích sủa gâu gâu. Gần như ngày nào cũng viết vài câu gâu gâu. Người khác trách, họ trả lời một cách thản nhiên: Thích, họ cứ sủa. Và hứa: sẽ còn sủa tiếp, dài dài. Ai chửi, mặc kệ: “Chả sao!”

                  Nói như là đe doạ.

                  Nghe những lời chửi mất gà ngày xưa, thấy vui. Nhưng nghe những lời đe doạ như thế trên mạng, chỉ thấy thảm.

                Bạn có nghĩ vậy không?

 

                                 --------------------------------------

                                          TAO CHỬI

 

                                                          TRẦN VÀNG SAO


                     tau tức quá rồi
                     tau chịu không nổi
                     tau nghẹn cuống họng
                     tau lộn ruột lộn gan
                     tau cũng có chân có tay
                     tau cũng có đầu có óc
                     có miệng có mắt
                     có ông bà
                     có cha mẹ
                     có vợ con có ngày sinh tháng đẻ
                     có bàn thờ tổ tiên một tháng hai lần
                     rằm mồng một hương khói bông ba hoa quả
                     tau đầu tắt mặt tối
                     đổ mồ hôi sôi nước mắt
                     vẫn đồng không trự nõ có
                     suốt cả đời ăn tro mò trú
                     suốt cả đời khố chuối Trần Minh
                     kêu trời không thấu
                     tau phải câm miệng hến
                     không được nói
                     không được la hét
                     nghĩ có tức không
                     tau chưởi
                     tau phải chưởi
                     tau chưởi bây
                     tau chưởi thẳng vào mặt bây
                     không bóng không gió
                     không chó không mèo
                     mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
                     giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
                     đặng nghe tau chưởi
                     tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời
                     cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì
                     con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi
                     tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
                     hết nối dõi tông đường
                     tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
                     tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
                     tam giáo đạo sư bây
                      cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
                      hà hơi trún nước miếng cho bây
                      bây ỉ thế ỉ thần
                      cậy nhà cao cửa rộng
                      cậy tiền rương bạc đống
                      bây ăn tai nói ngược
                      ăn hô nói thừa
                      đòn xóc nhọn hai đầu
                      ngậm máu phun người
                      bây bứng cây sống trồng cây chết
                      vu oan giá hoạ
                      giết người không gươm không dao
                     đang sống bây giả đò chết
                     người chết bây dựng đứng cho sống
                      bây sâu độc thiểm phước
                     bây thủ đoạn gian manh
                      bây là rắn
                     rắn
                     toàn là rắn
                     như cú dòm nhà bệnh
                    đêm bây mò
                     ngày bây rình
                     dưới giường
                     trên bàn thờ
                     trong xó bếp
                     bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
                     bây mang bí danh
                     anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
                     lúc bây thật lúc bây giả
                     khi bây ẩn khi bây hiện
                     lúc người lúc ma
                     lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
                      lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm
                      lúc như thầy tu vào hạ
                      lúc như con nít đói bụng đòi ăn
                     hai con mắt bây đứng tròng
                     bây bắt hết mọi người trứơc khi chết phải hô
                     cha mẹ bây ông nội ông ngoại bây tiên sư cố tổ bây
                     sống dai đời đời kiếp kiếp
                     phải quỳ gối cúi đầu
                    nghe bây nói không được cãi
                     phải suốt đời làm người có tội
                     vạn đợi đội ơn bây
                     đứa nào không nghe bây hớt mỏ chôn sống
                     thằng nào không sợ bây vằm mặt thủ tiêu
                     bây làm cho mọi người tránh nhau
                     bây làm cho mọi người thấy nhau nhổ nước miếng
                     đồ phản động
                    đồ chống đối
                    đồ không đá bàn thờ tổ tiên
                    đồ không biết đốt chùa thiêu Phật
                    thượng tổ cô bà bây
                     mụ cô tam đợi mười đời bây
                     tau xanh xương mét máu
                     thân tàn ma dại
                      rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch
                      mả ông bà cố tổ bây kết hết à
                      tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm
                      bây ăn chi mà ăn đoản hậu
                      ăn quá dã man
                      bây ăn tươi nuốt sống
                      mà miệng không dính máu
                      người chết bây cũng không chừa
                      năm năm mười năm hai mươi năm
                      xương chân xương tay sọ dừa vải liệm`
                      bây nhai bây khới bây mút
                      cả húp cả chan bây còn kêu van xót ruột
                      bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương
                      khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng
                      để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho
                      cha mẹ cố tổ bây
                     hỡi cô hồn các đảng
                     hỡi âm binh bộ hạ
                     hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
                     trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
                    đầu sông cuối bãi
                     móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
                     cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
                     bây giết người như thế
                     bây phải chết như thế
                     ác lai thì ác báo
                     tau chưởi ngày chưởi đêm
                     mới bét con mắt ra tau chưởi
                     chập choạng chạng vạng tau chưởi
                     nửa đêm gà gáy tau chưởi
                     giữa trưa đứng bóng tau chưởi
                     bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
                      mười hai nhánh họ bây
                     cao tằng cố tổ bây
                    tiên sư cha bây
                     tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
                    xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
                     tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
                     mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
                     tau chưởi  cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
                     đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
                     tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
                     đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
                     bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
                    cũng phải tránh xa
                     tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
                     sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
                     chết không được mà sống cũng không được
                    tau chưởi cho dứt nọc dòng  giống của bây cho bây chết sạch hết
                    không bà không con
                    không phúng không điếu
                    không tưởng không niệm
                    không mồ không mả
                    tuyệt tự vô dư
                    tau chưởi cho bây chết hết
                    chết sạch hết
                    không còn một con
                    không còn một thằng
                    không còn một mống
                    chết tiệt hết
                     hết đời bây


                                                               29 tháng 6 năm 1997

 

 
     
@ 2009. All rights reserved.
Design by A2ZDesign Group
Trang chủ   ::   Giới thiệu   ::   Ý kiến bạn đọc   ::   Thư viện ảnh   ::   Góp ý   ::   Liên hệ